THI
VĂN DẠY ÐẠO
1 . Trong đàn đêm 24-2-1934 tại Toà Thánh, phò loan Hộ Pháp - Tiếp Thế, Lục
Nương giáng cho biết bà là Jeanne d'Arc .
Trong một đàn khác, vào ngày 22-9-1934 phò loan Hộ
Pháp -Tiếp Đạo. Bà Jeanne d'Arc giáng dạy Đạo cho Bà Perreux như sau :
"Bonjour ma chère compatriote (Mme Perreux).
Je viens pour vous, par les prières sincères de nos
frères en esprit".
Mme Perreux demande des explications sur la
nouvelle religion, òu il y a des
dames dignitaires.
"Oui, c'est la seule religion qui octroie aux femmes un pouvoir
spirituel à que près égal à celui des hommes. Elle mettra en vue une justice
que la chrétienté a niée depuis longtemps ……" (Les messages spirites Tây
Ninh 1962 trang 103)1
Trong đêm Hội Yến Diêu Trì Cung đầu tiên (15-8-Aát Sửu, dl 1-9-1925), Lục Nương mời 3 Thiên
sứ liên ngâm để dạy đạo.
Lục Nương :
Trót
đã đeo mang cái nợ đời,
Gánh
đời nặng lắm khách trần ơi
Cao Q. Cư :
Oằn
vai Thần đạo non sông vác,
Chịu
kiếp trần ai gió bụi vùi.
Ph. C . Tắc :
Thương
hải tang điền xem lắm lúc,
Công
danh phú quí nhắm trò chơi.
C. H. Sang :
Ở
đời mới hẳn rằng đời khó,
Khó
một đôi năm, dễ khó đời.
Lục Nương :
Ở
thế sao chê tiếng thế buồn,
Buồn
vui hai lẽ lấy chi đong.
Cao . Q . Cư :
Cân
đai tuế nguyệt trêu hồn bướm,
Tên
tuổi phong ba lắm bụi hồng.
Ph . C . Tắc :
Chiếc
bách dập dồn dòng bích thuỷ,
Phồn
hoa mờ mệt giấc huỳnh lương.
C. H. Sang :
Bờ
dương chừ đặng phong trần rảnh.
Quảy
gánh thơ đàn dạo bốn phương.
Khi tái cầu, Lục Nương cho
bài thi như sau :
Im lìm cây cỏ vẫn in màu,
Mờ mệt vườn xuân điểm sắc thu.
Gió
dậy xao trời mây cuốn ngọc,
Sương
lồng ướt đất liễu đeo châu.
Ngựa
vàng ruổi vó thoi đưa sáng,
Thỏ
ngọc trau gương dậm vẻ làu.
Non
nước đìu hiu Xuân vắng chúa,
Nhìn
quê cảnh úa giục cơn sầu.
Cô Lục Nương lại cho tiếp
một bài điệu văn động đình :
Đầm
ấm cảnh trời mai ác lố,
Thơ
thới thuyền đưa khổ ách chèo.
Nhấp
nhô lượn sóng khoả lèo,
Luồng
đông gió tạc, cánh bèo ngưng sông.
Một
chiếc quạnh bóng hồng nhán ngọn,
Mây
đoanh non tuyết đóng nhành thung.
Về
Nam đổ cánh rừng tòng,
Ngút
xem tỏa áng mây đong khoá rèm.
Đường
xúm xít chị em ruổi bước,
Dìu
dắt nhau kẻ trước người sau.
Tìm
nơi hứng giọt mưa dàu,
Để
cơn khao khát khoe màu phù dung.
Đờn
nhắn khách năm cung nhạc trổi,
Vẹt
mây đen gió thổi chiều hôm.
Quang
âm ngày tháng dập dồn,
Ngừa
khi trễ bước hoàng hôn trở đường.
Đường
muôn dặm, khách đơn thân,
Mượn
bóng trăng làu bước vẹn chân.
Khoá
kín song thu trau hạnh đức,
Chờ
khi đạo trọn đến non thần.
Non
thần tiếng hạc chầu vang đảnh,
Chờ
rước người ngay chánh tìm đường.
Mơ
màng chưa tỉnh huỳnh lương,
Sóng
xao biển khổ nén thương khách trần.
3 . KHUYẾN TU :
Chanh
ranh vạn thế ở trong vòng,
Giành
giựt lẫn nhau miếng đỉnh chung
.
Khanh tể sao bằng tên đạo sĩ,
Hết
đời ai giữ chức làm ông.
(24-11-1925).
4 . KHÔNG XA CÁCH :
Từ
khi hiệp mặt buổi Trung thu,
Cảm
tình nhìn biết đứa em ngu.
Một
chung háo nghĩa bằng vàng nén,
Phòng
sau hội ngộ chỉ đường tu.
Cha
chả hèn lâu chẳng viếng thăm !
E
chư huynh trưởng trách em thầm.
Tuy
xa cách mặt, lòng không cách.
Buồn
dở thơ hoà đọc lại ngâm.
(23-12-1925)
5 . VUI :
Vui
nhơn vui đạo lại vui thiền,
Vui
một bước đường một bước yên.
Vui
bóng Cao Đài che khắp chốn,
Vui
gương Ngọc Đế thấy như nhiên.
Vui
ngàn thế tải ngăn nhơn sự,
Vui
một màu thiên đóng Cửu tuyền.
Vui
vớt sanh linh nơi bể khổ,
Vui
Trời rưới khắp đủ ân Thiên.
(Noel 1925)
6 . MỪNG : (Ba ông hiểu đạo)
Mừng
nay đường đạo đã êm chơn,
Vàng
ngọc công khanh chẳng dám hơn.
Rượu
cúc bàn đào chờ hội ẩm,
Thuốc
Tiên lò tạo giữ sanh tồn.
Bồng
lai vắng mặt Tiên buồn nhớ,
Dinh
đảo nghiêng tai Thánh khảy đờn.
Trước
chẳng giữ ngôi, ngôi mới mất,
Cân
phân thế tục phẩm chi sờn.
(13-1-1926 Cầu
kho)
7 . CÔNG QUẢ :
Công
quả ngày xưa thiệt chẳng hèn,
Nợ
trần bước tục phải đua chen.
Võ
đài chờ trả rồi oan trái,
Xủ
áo phồn hoa lại cảnh Thiên.
(27-1-1926)
8 . Đàn tại PHAÏM MÔN (Tây Ninh) ngày 12-2-1933 (29-12-Quí Dậu), Lục Nương
giáng cơ dạy :
"Em chào mấy anh, em đang ở Ngự Quan Cung, Bát
Nương đến cho hay rằng mấy anh đang ngưỡng nghĩa nên vội đến hầu. Khi mơi nầy,
em đặng tin lành Ngọc Hư chuyển pháp, Cả Thiên Thơ huỷ phá, sửa cải Pháp chơn
truyền, Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật vui mừng chẳng xiết, Diêu Trì Từ Mẫu đẹp dạ
khôn cùng, nhưng vì cái mừng ấy mà làm cho Người đổ luỵ ngâm bài than nầy :
Vú
mẹ chưa lìa đám trẻ con,
Độ
sanh chưa rõ phận vuông tròn.
Quyền cao Ngự Mã là vinh bấy,
Phận mỏng Hiệp Thiên biết giữ
còn.
Lợt điểm Thánh tâm trần tục khảo,
Vẻ tươi bợn thế nét dò don.
Thà xưa ví bẵng nay gìn vậy,
Lòng mẹ ngại ngùng con hỡi con !
Nhị Ca ôi ! Bài thi làm cho cả Cung Diêu Trì đều đổ luỵ. Mấy anh nên lấy đó
làm Phép hằng tâm, thì bước vinh diệu thiêng liêng không lạc nẻo"
Tái cầu : Lục Nương viết tiếp bài văn của Victor
Hugo :
Biết
thân lại đợi ai cầu (Victor Hugo).
Cầm
gươm thần huệ xây lầu tuyệt oan. (Lục Nương)
Dục
thế sự an nhàn lấy phận,
Sửa
Thiên cơ khỏi vấn vương oan.
Để
chơn vào chốn Niết Bàn,
Thoát
vòng luân chuyển mấy đàng tầm duyên.
Tu
đoạt pháp nhà thiền ít kẻ,
Những
ham mê theo lẽ dối đời.
Sa môn pháp chánh đổi dời,
Con buôn cửa Phạm gạt người thiện
tâm,
Phải hiểu nghĩa thiền lâm cho rõ,
Các thinh âm chẳng có cửa không.
Bớt điều sắc tướng huờn vong,
Bớt điều tà mị nhọc lòng Phạn nương.
Bớt
các lẽ người đương mê tín,
Nhập
tịnh gia cậy lịnh Thích Ca.
Bớt
điều làm sãi bó ma,
Đưa
linh lại mượn có nhà minh sanh.
Bớt
mọi lẽ giựt giành bói phược,
Lấy
vu lan đặng được ấm no.
Bớt
kinh bớt xá dâng thơ,
Mã
môn con hát giả đò khỏi khiên.
Bớt
dâng Phật, phế quyền Địa Ngục,
Bớt
đồ mưu lấy phúc Di Đà .
Bớt
phương giải nạn tầm ma,
Lập
nên danh phận con nhà quỉ tăng.
(21-1-1932)
GỞI THÁI THƠ THANH
Anh
khá nhận lời răn của Phật,
Lấy
từ bi dìu dắt sa môn.
Phật tăng như xác không hồn,
Đưa câu cứu khổ làm môn độ đời.
Anh nên mở cho rồi Cực Lạc,
Lập phương tu cho các chư sơn.
Tùng
theo chơn pháp Chí Tôn,
Đường
tu cửa Phật may huờn như xưa.
Em
nói rõ cho vừa anh hiểu,
Buộc
thiền lâm sùng kiểu Tam Kỳ.
Phép mầu hai chữ Từ Bi.
Em
xin kiếu. Lục Nương.
LỤC NƯƠNG KÍNH TẶNG :
Lục
lạc khua rang cả Ngũ châu,
Nương
chi vật chất phải ưu sầu.
Kính
xin tỉnh giấc lo tu sớm,
Tặng
quyết cầu ân cởi ách sầu.
THƠ VỊNH :
Cô
Lục Nương phướn tiêu diêu nắm,
Để
truy hồn say đắm biển mê.
Cõi
Kim Thiên, khổng tước kề,
Hữu
căn tiếp dẫn hồn về Tây phương.
H.P
TIẾT
VII
LỄ -
THẤT NƯƠNG
(Thủ bối : Liên Hoa)
Lễ
bái thường hành tâm đạo khởi,
Nhân
từ tài thế tử vô ưu.
Ngày
xuân gọi thế hảo cừu
Trăm
duyên phước tục khó bù buồn Tiên.
THÍCH
NGHĨA :
Cúng lạy thường ngày thì đạo trong tâm khởi hiện.
Người hiền đủ tài đức ở đời thì khi chết không biết
lo âu.
Ngày còn thuở con gái (thanh xuân) gọi như thế là
một oán hờn tốt.
Dù duyên nợ được trăm phước ở cõi tục cũng không
bằng cái buồn ở cõi Tiên. Nghĩa là cái trăm vui ở cõi trần gian không sánh nổi
cái u buồn ở cõi trên, tức là cái buồn ở Thượng giới vẫn vui hơn trăm lần vui ở
hạ giới.
GIẢI
NGHĨA :
Bài này tả tâm sự của cô Vương Thị Lễ. Cô được sanh
ra trong một nhà quan, khi bị bệnh trầm kha. Thân mẫu của Cô nói ai cứu được
thì gả Cô cho người ấy. Nào ngờ, khi Cô được thầy thuốc chữa lành bịnh, mẹ cô
quên lời hứa cũ. Còn Cô thì vẫn âm thầm thương nhớ vị lương y "Ngày xuân
gọi thế là hảo cừu". Nhưng sau nhờ tu luyện "Lễ bái thường
hành", Cô đắc đạo mới rõ "Trăm duyên phước tục chẳng bù buồn
Tiên".
Cô là Thất Nương có bổn phận độ người theo đạo. Cô
là người đầu tiên dẫn dắt các Thiên sứ theo Đạo mới và lập Đạo mới, nên tượng
thờ Cô, trên tay có cầm hoa sen.
SỰ
TÍCH :
Cô Vương Thị Lễ sanh năm 1900 tại Chợ Lớn, con ông
Vương Quan Trân (anh ruột giáo sư Vương Quan Kỳ) và bà Đỗ Thị Sang (con gái của
ông Tổng đốc Đỗ Hữu Phương).
Nhà họ Đỗ sanh con khó nuôi, nên phải ra tận Huế
thỉnh lư hương của Bà Cửu Thiên Huyền Nữ (tức Phật Mẫu) về thờ để mong phò hộ.
Nhờ đó cô Vương Thị Lễ được nuôi lớn. Nhưng đến năm 18 tuổi Cô "phủi nợ
xuống tuyền đài".
Theo lời của Đức Hộ Pháp thuật lại thì tiền kiếp
của cô Lễ là một vị công chúa, con một vị vua. Trong triều có một vị quan yêu
cô, nhưng vì môn đăng hộ đối không lấy được cô nên vị quan bị thất tình mà
chết.
Đến kiếp này, cô đầu thai vào gia đình họ Vương,
đang theo học trường Sainte Enfance đến trình độ Brevet Elémentaire (Trung học
Pháp), có nhiều danh gia vọng tộc đi hỏi cưới mà cô không chịu, thì Cô mắc phải
bệnh ngặt nghèo, chạy đủ thầy mà không hết. Thân mẫu cô mới truyền rao ai cứu
được cô thỉ gả cho người ấy.
Lúc đó có một ông thầy thuốc tây, học ở Hà Nội
(Médecin Indochinois) mới bổ lên Saigon. Gia đình cô rước đến chữa khỏi bịnh
cho cô. Cô biết vị lương y nầy là ông quan trẻ thầm yêu cô trước kia vì
"nợ ba sinh" mà hai người cùng đầu kiếp để nên nghĩa vợ chồng.
Song, thân mẫu Cô quên lời hứa, chỉ trả tiền cho
thầy thuốc rồi thôi. Riêng cô vẫn giữ dạ keo sơn rồi trở bệnh cho đến chết. Thế
nên, đêm 30-7-1925, khi ba Thiên sứ Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang,
họp nhau xây bàn tại nhà ông Cao Hoài Sang thì cô giáng bàn cho thi.
THI
Nỗi
mình tâm sự tỏ cùng ai ?
Mạng
bạc còn xuân uổng sắc tài.
Những
ngỡ trao duyên vào ngọc các,
Nào
dè phủi nợ xuống tuyền đài.
Dưỡng
sinh cam lỗi tình sông núi,
Tơ
tóc thôi rồi nghĩa trúc mai.
Dồn
dập tương tư quằn một gánh,
Nỗi
mình tâm sự tỏ cùng ai ?
Ký tên : Đoàn Ngọc Quế.
Ngài Cao Quỳnh Cư hỏi : - Hồi còn tại thế, xứ ở đâu
?
Cô đáp : - Ở Chợ Lớn.
Ngài Phạm Công Tắc hỏi : - Cô học ở đâu ?
Cô đáp : Học ở trường đầm.
Tên Đoàn Ngọc Quế chỉ là mượn tên của một người bạn
thân với ông Cao Quỳnh Diêu, mục đích tạo hiếu kỳ cho các ông ham tìm hiểu để
dẫn dắt vào đường Đạo. Ba ngài đều có hoạ bài thi trên.
Cũng đêm đó, ngài Cao Quỳnh Cư hỏi cô bịnh gì mà
chết, cô đáp bằng hai bài thi sau :
THI
Trời
già đành đoạn nợ ba sinh,
Bèo
nước xẻ hai một gánh tình
Mấy
bữa nhăn mày lâm chước qủi,
Khiếm
ôm mối thảm lại Diêm đình.
Người
thì ngọc mã với kim đàng,
Quên
kẻ dạ đài mối thảm mang
Mình
dặn lấy mình, mình lại biết,
Mặc
ai chung hưởng phận cao sang
Một tối thứ bảy, (8-1925) trong lúc các Ngài Cư,
Tắc, Sang xây bàn, cô nhập bàn. Các ngài xin kết nghĩa làm anh em. Cô bằng lòng
và gọi :
- Ông Cư là Trưởng ca
- Ông Tắc là Nhị ca
- Ông Sang là Tam ca
Còn cô là Tứ muội ( em gái thứ tư).
Nhờ kết nghĩa anh em, các ông bèn gạn hỏi tên thật.
Cô mới gỏ bàn viết ba chữ "VTL". Cô còn chỉ rõ ngôi mộ của cô hiện ở
khu Bà Lớn ( gần Ngã bảy ngày nay). Sáng chúa nhật, các ông rủ nhau đi tìm, tìm
thấy mộ cô xây gạch rất đẹp, nơi nhà bia có khắc hình cô, dưới đề tên Vương Thị
Lễ. Các ông mới khấn vái mời cô về nhà nhập bàn hỏi chuyện. Khi các ông đem bàn
ra cầu, cô nhập bàn xác nhận các ông tìm đúng mộ của cô.
Đến 18-8-1925, Cô Lễ giáng bàn, các Ngài hỏi rằng :
- Em còn chị em nào nữa biết làm thi, xin cầu khẩn
đến dạy ba anh em qua làm thi.
Cô Lễ nhịp bàn trả lời :
- Có chị Hớn Liên Bạch, Lục Nương, Nhứt Nương làm
thi hay lắm. Ba anh muốn cầu thì ba anh phải ăn chay mới cầu được.
Cũng vào tháng 8 năm đó, thiết đàn xây bàn, các
Ngài được Cô Lễ báo tin có một Đấng đến tiếp xúc :
THI
Ớt
cay cay ớt gẫm mà cay,
Muối
mặn ba năm muối mặn dai.
Túng
lúi đi chơi nên tắp lại,
Ăn
bòn chẳng chịu tắp theo ai.
A-Ă-Â.
Đến ngày 25-8-1925 (8-8-Aát Sửu), Đấng A Ă Â dạy ba
Ngài vào rằm tháng 8 thiết tiệc chay thỉnh Đức Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương
đến dự tiệc. Đó là lễ Hội Yến Diêu Trì (xem ở trước) mà về sau, hằng năm Toà
Thánh Tây Ninh đều có tổ chức.
Sau đó, các Ngài xây bàn, Đấng A Ă Â giáng cho thi,
rồi đến Đức Phật Mẫu, Cửu Vị Tiên Nương, mỗi vị đều giáng cho một bài mà ngày
nay hằng năm thài để hiến lễ vào dịp Hội Yến. Những bài mà sách nầy dùng làm cơ
bản để truy nguyên lai Cửu Vị Tiên Nương. Riêng Lục Nương thì giáng cho thêm
một bài (Xem Đại Đạo Sử Cương , quyển I trang 35) và cô cũng cho biết cô Vương
Thị Lễ là Thất Nương Diêu Trì Cung.
Tóm lại, chính cô Vương Thị Lễ, lúc đầu dùng văn
chương tình tứ để dẫn dắt 3 vị Thiên sứ theo Đạo mới, sau nghiêm khắc buộc các
Ngài ăn chay cầu Đạo, rồi giới thiệu với Đấng A Ă Â (tức Đấng Chí Tôn), Đức
Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương. Ta phải nói công đầu khai mở Đạo Cao Đài là công
của Thất Nương. Cô còn phổ độ hầu hết chúng sanh vùng Sài gòn, Chợ Lớn, Gia
Định theo Đạo.
THI
VĂN DẠY ÐẠO
1 . VIẾNG CỐ NHÂN :
Lừa
dịp đình chơn viếng cố nhân,
Cảm
tình trông đợi, dạ ân cần.
Chầy
ngày tuy chẳng thăm nhau đặng,
Mà
tấm lòng kia vẫn luống gần.
2 . GIẢI THI QÚI CAO.
Ngày 27-11-1925, Quí Cao
giáng cho thi :
Tử
sanh dĩ định tự thiên kỳ,
Tái
ngộ đồng hoan hội nhứt chi.
Bắc
Nguỵ quan vân tâm mộ hữu,
Giang
Đông khán thụ lụy triêm y.
Hôm sau, Thất Nương giải nghĩa 2 câu chót :
"Khi Như Hoành ở Bắc Nguỵ đi thuyết chiến bên
Giang Đông gặp Bạch Hàm thì tâm đầu ý hợp kết làm anh em. Khi Như Hoành về Nguỵ
thì anh em khó phân ly, Như Hoành than rằng:
- Bắc Nguỵ văn thiên thụ.
- Giang Đông nhứt mộ vân. Bạch Hàm đáp.
Nghĩa là :
- Ngó Bắc Ngụy, ngàn câu đưa tiếng bạn,
- Nhìn Giang Đông thấy khóm mây vẽ hình anh.
3 . MỪNG THAY !
Đã
cùng nhau trót mấy lời giao,
Cách
mặt mà lòng chẳng lãng xao.
Đàng
đạo càng đi càng vững bước,
Cõi
Thiên sau ắt hội cùng nhau.
Một
nhà vầy hội rất mừng thay,
Đạo
Thánh từ đây đặng vẹn ngay.
Một
bước một đi đường một tới,
Lòng
thành xin trọng thấu Cao Đài.
(22-12-1925)
4 . CHO ÔNG CHẤN :
Hồ
thủy vẫy vùng đáng phận trai,
Trời
chiều nay đã rạng cân đai.
Gành
Nam nếu đặng người tên tuổi.
Đất Bắc mừng an bước lạc loài.
Lộc nước gắng đền công chín
tháng,
Nợ
nhà tua vẹn gánh hai vai.
Qui
điền có lúc phong trần rảnh,
Đinh
sắt một lòng chí chớ lay.
(21-12-1925)
5 . Ngày 13-11-1925, ba Thiên sứ trách Cô Thất Nương không nói thật thiên cơ,
Cô giáng cho thi :
Người
vô tình, kẻ bạc tình,
Ba anh chẳng nghĩ nghĩa đồng thinh.
Đặng chim trách kẻ toan quên ná,
Buồn bực cho đây vẫn một mình.
Thử lòng tri kỷ đó mà thôi,
Tương ngộ có hơn bảy tháng
rồi.
Yêu
mến một lòng đây biết rõ,
Thuỷ
chung đâu để hổ cùng lời.
Ba ông Cư, Tắc, Sang nói :
- Anh trách sao em không nói thật A Ă Â là ông
Trời, em thấy ba anh như mù, em cứ gạt hoài.
Thất Nương đáp :
- Trời là Trời, em là em. Em rõ biết nhưng không
dám lậu, nay ba anh đặng biết vậy em mừng.
6 . THẤT NƯƠNG KÍNH TẶNG :
Thất
thế náo thân chớ tưởng lâu,
Nương
cùng quí vị chỉ đường cầu.
Kính
đem đến tận bờ dương liễu,
Tặng
nghĩa đài sơn kẻ chực chầu.
(2-9-1942)
7 . THƠ VỊNH
Cầm
hoa sen Thất Nương nguyện rỗi,
Cõi
Hạo Nhiên mở lối vĩnh tồn.
Âm
quang nhiệm vụ độ hồn,
Tái
sanh Vương đạo Chí Tôn siêu phàm.
H.P
8 . ÂM QUANG LÀ GÌ ?
Tiếc thay em có dặn trước ngày em đến, đặng hội hiệp đông đủ cùng nhiều chị,
nhưng phò loan trể nãi, nên em
không phương gặp đặng, nhất là về việc Diêu Trì Cung bị mượn danh nơi khác mà dối gạt nhơn sanh. Cái hại ấy vốn chẳng vừa về phần
tín ngưỡng. Chớ chi thất tại tà quyền, thì có mấy em trừ khử, nhưng tại nơi
đồng tử thì mấy em không phương giải nạn cho mấy người mê tín.
Thưa cùng mấy chị, em xin nhắc nhở điều nầy :
Ngày hội Ngọc Hư đặng lo phương tiếp pháp của Tây
phương Cực Lạc qua, em đã đặng nghe thấy những lời của Địa Tạng Vương Bồ Tát
than thở rằng : Ngài là Phật nên khó gần gũi các hồn Nữ phái mà khuyến giáo cơ
giải thoát mê đồ. Bởi cớ nơi Âm quang, nữ hồn còn bị luyện tội nhiều hơn Nam
phái bội phần. Em lại nghe Người ước rằng : chớ chi có một đấng Nữ Tiên dám đảm
đương đến phổ tế mới mong tận độ chư vong của Phong đô thoát kiếp. Em mới để dạ
lo lường cả lòng lẫn ái đến đó; em đã chán thấy nhiều tội tình chẳng trọng hệ,
song có hồn chịu sầu thảm lạ thường. Em đã liệu nhiều phương thế cho từ đây mấy
chơn hồn có bề dễ tránh khỏi cửa Âm quang hãm tội.
Em nên nói rõ âm quang là gì trước đã, rồi thì mấy
chị mới hiểu đặng.
Âm quang là nơi Thần Linh Học gọi là nơi Trường
đình của chư hồn giải thể hay nhập thể. Đại Từ Phụ đã định nơi ấy cho Phật gọi
là "Tịnh Tâm xá" nghĩa là nơi của chư hồn đến đó đặng tịnh tâm, xét
mình coi trong kiếp sanh bao nhiêu phước tội. Vậy thì nơi ấy là nơi xét mình.
Chớ chi cả nhơn sanh biết xét mình trước khi thoát xác, thì tự nhiên tránh khỏi
Âm quang. Nói cho cùng, nếu trọn kiếp, dầu gây lắm tội tình, mà phút chót biết
ăn năn tự hối, cầu khẩn Chí Tôn độ rỗi, thì cũng lánh xa khỏi cửa Âm quang, lại
còn hưởng đặng nhiều ân huệ của Chí Tôn, là các chơn hồn đặng tự hối hay là
đặng giáo hoá mà hiểu trọn chơn truyền lập phương tự độ, hay là con cái của các
chơn hồn cầu rỗi.
Ôi ! Tuy vân, hồng ân của Đại Từ Phụ như thế mà vẫn
thấy các chơn hồn sa đoạ hằng hà, mỗi ngày xem chẳng ngớt, là tại thiếu kém đức
tin và lòng trông cậy nơi Thầy; đó là mấy Đạo hữu tín đồ bị thất thệ. Em trông
thấy bắt đau lòng, phái Nữ lại là phần đông hơn hết. (Ngày 9-4-Giáp Tuất).
9 . TẶNG THANH SƠN :
Tài
Thanh Sơn, trí Thanh Sơn !
Câu
văn tuyệt bút vẽ nên hờn.
Giục
lòng chí sĩ chưa vừa sức,
Múa
bút thần tiên đủ chấp quờn.
Dệt
thảm lê dân Trời cám cảnh,
Thêu
sầu xã tắc Đất kinh hồn.
Nắn
nhồi trí sĩ thành linh khí,
Rèn
chất anh thư đắp lũy đồn.
10 . TÌNH ÁI :
Người
tình ái lòng thương như biển,
Cả
nước non hoà tiếng yêu đương.
Thương
hồi gió lá đương sương,
Thương
chim đổ cội, thương tường che hoa.
Thương
tiếng dế như hoà khóc bạn (nhạn),
Thương
hơi cây gió thoáng reo đờn.
Thương
bầy thú nhẩy đầu sơn,
Kết
đôi chẳng hiểu tiếng hờn chia bâu.
Thương
sông chảy như rầu nhăn mặt,
Thương
gành khuya như bắt cầu Lam.
Thương
con thuyền bá nương buồm,
Thương
dòng nhi nữ chứa hờn Tương giang.
Thương
gió lạnh mây tan Trời rạng,
Thương
muôn sao nhấp nhoáng bóng khuya.
Thương
mưa đổ giọt châu ria,
Cỏ
cây như nước chan hoà đầm xuân.
Thương
đến chốn gọi rừng Trước tử,
Chứa
hiền xưa đặng giữ Đạo Trời.
Thương
công ngư phủ đầm khơi,
Đò
nhơn rước khách lập đời an nguy.
Thương
vạn vật cũng bì đồng loại,
Thương
nhơn sanh chẳng mõi lòng thương.
Thương
người lạc bước lỡ đường,
Tìm
chơn Cung Tốt, lạc đường Bích Cung.
Thương
các Đấng anh phong vị chủng,
Thương
những trang bỏ sống vì nhà.
Thương
luôn mả ủ thân ma,
Cốt
căn bao Đấng san hà gây nên.
Thương
cửa Khổng chẳng bền mối Đạo.
Thương
nhà văn khó bảo cơ văn.
Đòi
phen nắm viết muốn quăng,
Đề
danh chẳng kể đáng bằng ghi tên.
Thương
những kẻ vì hiền khổ phận.
Cửa tang du khó lấn đầu hiên.
Thương
người đeo thảm chuốc phiền,
Nỗi duyên
lỡ dỡ hương nguyền lạnh tanh.
Thương
những kẻ ôm dành cả nghĩa,
Thương
cho người cửa tía cầu ô,
Bán
thân vì chút từ cô,
Đem
duyên mà đổi liễu bồ buôn may.
Thương
nỗi bạn hằng ngày trông bóng.
Kiếm
người thương những ngóng tin sương.
Tuyết
khuya bủa lạnh then giường,
Gối
chăn chia nửa, bước đường lạnh tanh.
Thương
nghe dế năm canh trổi giọng,
Tưởng
như dường ướm gióng dây loan.
Thương
ai thổn thức canh tràng,
Vô
phòng phòng vắng, vén màn màn côi.
Thương
cho kẻ ngậm ngùi lỡ phận,
Tìm
kiếm đôi lại vấn vương oan.
Thương
người lánh tục tìm nhàn,
Trễ
chơn mà bị phụ phàng tình duyên.
Thương
người giữ chẳng bền danh tiết,
Vì
thương nên khó biết trong mình,
Thà
cam chết sống với tình,
Chia tay chẳng chịu sớm đành phụ nhau.
Thương Trời rạng lao xao
cánh nhạn,
Đến
đưa tin cửa Hớn Chiêu Quân.
Thương
người lạc bước phong trần,
Đem
thân Hồ Hớn bỏ phần tơ duyên
Thương
người những chờ thuyền biển ái,
Bồng
con thơ ngần ngại trông chồng.
Tấm
trinh đổi mặt non sông,
Đành
đem thân đá hẹn cùng tuyết sương.
Thương
mây toả như dường vẽ bóng,
Chức
Nữ kia ngồi ngóng Ngưu lang.
Trông
vời cánh thước nhộn nhàng,
Cầu
ô chẳng đến lấp đàng hiệp đôi.
Thương
Cung Quảng, Hằng ngồi ngó bể,
Đợi
tin chàng Hậu Nghệ đến thăm.
Thương
ai mến trộm nhớ thầm,
Lựa
duyên chẳng chịu ôm cầm thuyền ai.
Thương
Tô Huệ hằng ngày dệt gấm,
Dâng
tấm trinh vào tận đền rồng.
Thương
người chịu nhục cùng chồng,
Dầu
xa ân ái còn nồng nghĩa nhân.
(1933)
TIẾT VIII
HỒ HỚN - BÁT NƯƠNG
(Thủ bối : Hoa Lam)
Hồ
Hớn hoa sen trắng nở ngày,
Càng
gần hương đẹp lại càng say.
Trêu
trăng hằng thói dấu mày,
Cợt
mây tranh chức Phật đài thêm hoa.
THÍCH
NGHĨA :
Cái hồ ở nhà họ Hớn bông hoa sen trắng nở ban ngày;
càng đến gần hương hoa lại càng thơm ngát, như trêu cả mặt trăng núp bóng mây
(vì trăng sáng láng đẹp đẽ nhưng thiếu hương thơm như sen). Cả áng mây, sen
cũng lướt qua mà lên chốn Phật đài (thêm hoa là thêm chơn linh đắc quả).
GIẢI
NGHĨA :
Bài này tự vịnh phong các của cô Hớn Liên Bạch (sen
trắng). Hồ là họ kiếp sau của cô. Cô cho rằng trong các loài hoa chỉ có hoa sen
thanh cao, tinh khiết và đẹp nhất. Ca dao VN có câu :
"Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng"
Trăng và mây là hai thể tinh vân : một đàng vằng
vặc soi sáng khắp thế gian; một đàng bồng bềnh trôi nổi. Thế mà đối với sen
(đối với cô Hớn Liên Bạch) cũng phải thẹn, cũng phải nhường bước. Quả thật Cô
là một nhà uyên bác, nhà tư tưởng và triết lý gia của Đạo Cao Đài. Chỉ một bài
kinh Phật Mẫu, cô giáng cho hàm súc đủ bản nguyên tư tưởng của Đạo Cao Đài; Vũ
trụ quan, Nhân sinh quan, triết lý tôn giáo, con đường cứu rỗi, v..v…
Trong cõi Hư Linh, cô điều khiển cơ huyền vi giáo
hoá các linh hồn mê muội trong cõi vật chất mà độ rỗi họ, đồng thời đưa các
đẳng linh hồn vào cõi Phi Tưởng Thiên mà hoá vị.
SỰ
TÍCH :
Bà Bát Nương xuống trần vào đời Tiền Hán ; trước
thời Vương Mãng phản triều đình. Bà tên thật là Hớn Liên Bạch mà cô Thất Nương
hằng giới thiệu và kính nhường là thi thơ hay nhất. Bà có tài văn chương, tính
người thẳng thắn, mực thước. Bà vì bất bình trước việc bất trung của Vương Mãng
mà xui khiến chư hầu và các tướng tá giúp nhà Hán triệt hạ Vương Mãng.
Song đến thời Hậu Hán, khi Lưu Tú lên ngôi, sai Tô
Định và Mã Viện sang xâm lược nước ta, Bà lại bất bình kẻ mạnh hiếp yếu nên
chuyển kiếp sang Việt Nam chống lại nhà Hậu Hán, với họ Hồ để che mắt người
đời.
Bà giáng sinh trong nhà Hồ Công An ở Đông Cao, tên
là Hồ Đề, hàm ý "Hồ Đề kháng Hớn" (Cô Hồ chống nhà Hớn). Cô Hồ có sức
khoẻ hơn người, đã bắt được ngựa dữ lúc còn ít tuổi. Tô Định hay tin nầy, phái
sứ giả tới đòi. Hồ Đề tát tai tên quan. Thân phụ cô lo sợ sanh bệnh rồi mất. Cô
cùng mẹ đến động Lão Mai ẩn náo, ngày ngày cưỡi ngựa bán muối. Nhờ đó cô Hồ Đề
biết trong số 72 động chúa, quá nửa đều bất bình với giặc Hán.
Sau cô bắt được voi trắng, dân 72 động tôn cô là
"Vua Thiên Sứ" (Thái Nguyên), coi cô là Tiên Nữ giáng trần. Danh
tiếng cô bay khắp các châu quận, ngày càng có nhiều hào kiệt đến xin theo. Khi
hay tin Hai Bà Trưng tụ nghĩa ở Mê Linh, Hồ Đề cầm cờ xanh (màu Tiên), cỡi voi
trắng (voi thần) cùng 2000 nghĩa binh miền núi về Mê Linh hội quân. Hồ Đề được
phong chức Phó Nguyên soái, đứng đầu hàng nữ tướng, ngang chức với Bà Trưng
Nhị. Hồ Đề ra trận nào thắng trận ấy, có lần đuổi Mã Viện chạy dài ở Cao Bằng.
Sau khi Hai Bà Trưng tử tiết, (năm 43 sau Tây Lịch)
, Hồ Đề một mình chống giặc, cô mở đường chạy tới bờ sông Nguyệt Đức và hét to
lên một tiếng, nước rẽ làm hai đón cả người lẫn voi. Cô Hồ Đề đã trở về cõi
Trời. (Nữ Tướng thời Trưng Vương, Hà Nội 1977).
Cô là Bát Nương, có bổn phận bảo hộ và phổ độ dân
Trung Hoa (lúc là Hớn Liên Bạch) và người Thượng, đồng bào ít người ở nước ta
theo Đạo mới.
THI
VĂN DẠY ÐẠO
Bát Nương là tư tưởng gia, triết lý gia của Đạo Cao
Đài. Bài kinh Phật Mẫu bà giáng cho bằng chữ Hán ở Nam Vang (Phnom-Pênh) đã
minh chứng rõ.
1 . QUAN NIỆM VỀ VŨ TRỤ :
"Thập thiên can bao hàm vạn tượng,
Tùng
Địa chi hoá trưởng càn khôn".
Đây là bản dịch lý từ thời Phục Hy đến lúc nhà Chu
thống nhất, Hư vô sanh Thái cực, Thái cực sanh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sanh Tứ
tượng, Tứ tượng sanh Bát Quái, Bát quái biến hoá ra Càn khôn Vũ trụ.
2 . QUAN NIỆM VỀ NHƠN SINH :
"Thiên
cung xuất vạn linh tùng pháp,
Hiệp
Âm Dương hữu hạp biến sanh"
"Càn
khôn sản xuất hữu hình,
Bát
hồn vận chuyển hoá thành chúng sanh".
Bát hồn là Kim thạch hồn, Thảo mộc hồn, Thú cầm
hồn, Nhơn hồn, Thần, Thánh, Tiên, Phật, gọi chung là chúng sanh, đồng thời chỉ
các thời kỳ tạo lập vũ trụ. Khởi tiên, Đức Chí Tôn tạo ra đất đá, kế đến cây
cối, chim muông, cuối cùng là con người ( Xem Đại Đạo Lý Giáo)
Hội Kim Bàn chưởng quản Bát Cảnh Cung ở Thượng giới,
là nơi qui định rõ đoạ thăng của Bát hồn để đưa xuống đầu kiếp ở hạ giới.
3 . CON ĐƯỜNG CỨU RỖI :
"Cộng
vật loại huyền linh đồ nghiệp,
Lập
tam tài định kiếp hoà căn.
Chuyển
luân định phẩm cao thăng,
Hư
vô Bát quái trị thần qui nguyên.
Diệt
tục kiếp trần duyên oan trái,
Chưởng
đào tiên thủ giải trường tồn.
Nghiệp
hồng vận tử hồi môn,
Chí
Công định vị vĩnh tồn Thiên cung".............
"Trùng
huờn phục vị Thiên môn,
Nguơn
linh hoá chủng quỉ hồn nhứt thăng.
Vô
siêu đoạ hoả căn hữu pháp,
Vô
khổ hình nhơn kiếp lưu oan.
Vô
Địa ngục,vô quỉ quan,
Chí
Tôn đại xá nhứt trường qui nguyên".
Quả thật : "Hữu duyên mới gặp Tam Kỳ Phổ Độ;
muôn đời còn tử thủ lưu danh". Ai vào Đạo, dù nguyên nhơn, hoá nhơn hay
quỉ nhơn (của các thời kỳ phổ độ trước còn lại) đều "định phẩm cao
thăng" không có địa ngục với cai quỉ tra khảo vì Chí Tôn đại xá cho dự Hội
Bàn đào trường sinh bất tử "vĩnh tồn Thiên cung" nơi cõi Thiêng liêng
Hằng sống.
4 . TRIẾT LÝ VỀ TÔN GIÁO :
"Kỳ
khai tạo nhứt linh đài,
Diệt
hình tà pháp cường khai đại đồng.
Hiệp
vạn chủng nhứt môn đồng mạch,
Qui
thiên lương quyết sách vận trù.
Xuân
thu, Phất chủ, Bát vu,
Hiệp
qui Tam giáo hữu cầu chí chơn"
...................................................
"Hội
nguơn hữu Chí Linh huấn chúng,
Đại
Long Hoa nhơn chủng hoà ki.
Tam
kỳ khai hiệp Thiên thi,
Khoa
môn Tiên vị ngộ kỳ Phật duyên".
Bà cho biết : Đạo Cao Đài mở ra hợp với sách trời
để hiệp mọi sắc dân trên thế giới thành một, vì vốn họ từ cùng một Đấng Cha
hiền sanh ra. Tuy giai đoạn đầu mới khai Đạo là qui Tam giáo cho hợp với mảnh
đất phát sinh là VN, nhưng thật là hợp nhứt vạn giáo để khai Hội Long Hoa mà
tuyển chọn Phật vị tức là những bậc hiền triết của nhơn loại.
Chỉ có bài Kinh Phật Mẫu mà Bà Bát Nương nói lên
đầy đủ những nét cơ bản của Đạo Cao Đài từ vũ trụ quan, Nhân sinh quan, con
đường cứu rỗi rồi đến Triết lý về tôn giáo.
5 . NGOÀI RA BÀ CÒN ĐỀ RA
NHỮNG TƯ TƯỞNG NHẬP THẾ HỢP VỚI CƠ PHỔ ĐỘ:
"Đại Đạo là cơ sanh hoá Càn khôn vũ trụ, tức
là sự điều hoà của vạn vật hữu hình, thì chẳng riêng một sanh linh nào là không
đứng vào vòng cao trọng ấy.
"Nay đã đến lúc Hạ nguơn, theo luật tuần hoàn,
mọi đức tính của vạn linh theo thời gian bị vật thể hoá, khiến cho tinh thần
lấm bụi hồng vì công danh, vì phú quí mà quên tình đồng loại, đang quằn quại
dưới mọi đau thương. Tam Kỳ Phổ Độ khai đặng thức tỉnh mê đồ, lập nguơn Thánh
đức" (11-1-Giáp Ngọ).
Hoặc :
"Hễ gặp người an bang tế thế,
Nên quì mà nghênh, lấy lễ đãi người.
Cổi
thân ra mảnh áo tơi,
Che
mưa đỡ nắng giúp người nguy nan."
Những bài thi văn dưới đây, tuy có tính tình cảm,
nhưng vẫn phảng phất mùi triết lý dạy đời của bà Bát Nương :
6 . TIỄN BIỆT TÌNH LANG :
Chia
gương căn dặn buổi trường đình ,
Vàng
đá trăm năm tạc tấm tình.
Bước
rẽ ngùi trông cơn ác xế,
Lời
trao buồn nhớ lối trăng thinh.
Ngày
chờ mây án ngàn dâu khuất,
Đêm
bặt đèn khuya một bóng nhìn.
Lần
lựa cô phòng xuân thỏn mỏn,
Xa
xuôi ai thấu nỗi đinh ninh.
(22-8-1925)
7 . MỪNG THANH THUỶ :
Lửa
lòng rưới tắt mượn nhành dương
Vì
nghĩa sơ giao phải đến thường.
Còn
gánh đồ thơ tua vẹn giữ,
Dứt
dây oan trái chớ riêng thương.
Mừng
nay Thanh Thuỷ giải dây oan, (*)
Đường
Đạo từ đây bước vững vàng.
Tình
ái nhành dương đem rưới tắt,
Nắm
tay dìu lại cõi Tiên bang.
(22-12-1925)
(*) ( Thanh Thuỷ
là bút hiệu của Đức Thượng Sanh Cao Hoài Sang )
8 . MỪNG ÐẠI TỶ ( Đại tỷ là bà
Đầu sư Hương Hiếu )
Nỗi
phận vô duyên phận chẳng đành,
Trách
ai mộ thói yến cùng anh.
Nương
mây đợi mõi lòng tình ái,
Mượn
ngọc trông ngơ tấm liệt trinh.
Vuốt
dạ riêng đau người một cảnh ,
Dằn
thương cố nhớ buổi chung tình.
Nhắn
mưa gởi gió bâng khuâng để,
Một
tấm tơ duyên đứt đoạn gìn.
(14-1-1926)
9 . MỪNG BA ANH.
Chờ
về vắng bặt tiết thu qua,
Tiếng
nhạn kêu sầu tiếng thiết tha.
Vườn
trước ngơ trông cây liễu rũ,
Non
xưa chạnh nhớ bóng trăng tà.
Thi
đề thảm lóng hơi oanh thán,
Cầm
trổi buồn nghe tiếng dế hoà.
Dặm
thẳng lương nhân xin khá gắng,
Đường
dài nghĩa nọ dễ đâu xa.
(27-1-1926)
10 . TẠM BIỆT.
Động
đình chạnh lúc tạm chia đường,
Bốn
giọt nhìn nhau lối rẽ cương.
Trời
thảm mây giăng muôn cụm ủ,
Biển
sầu nước nhuộm một màu thương.
Cờ
thần nhớ buổi vầy đôi bạn,
Tiệc
ngọc nào khi hội nhứt trường.
Mượn
vận lương nhân xin nhắn nhủ,
Vườn
xưa tiếng nhạn luống kêu sương.
11 . BÁT NƯƠNG DTC.
Chào quí anh quí chị, mời bình thân. Năm mới (Thánh
ngôn Hiệp tuyển (quyển II) Tây Ninh 1966, trang 7 không thấy ghi năm, có lẽ năm
Bính Mão) chùa mới, vạn sự đều mới, vậy em đến cầu chúc cho quí anh quí chị
đặng những điều mới mẽ may mắn. Em cho biết, phàm mỗi năm, những vị nào trong
ngày xuân biết lo phụng sự Thần, Thánh, Tiên, Phật thì công đức đặng xấp bằng
hai lần ngày thường. Còn việc các Đấng phú thác cho mình, hoặc yêu cầu mình thi
hành, nếu mình trọn tin mạng pháp thì các Đấng cũng ghi công cho. Nhược bằng
mình không tuân hoặc trễ nãi thì các Đấng lại ghi tội cho. Muôn việc khởi đầu
đều khó, nhưng cái khó mình lướt qua đặng mới có công, mới anh hùng, mới chí
sĩ, mới đáng đạo sĩ. Qúi anh, quí chị đều ăn sung mặc sướng, nay đổi lại chịu
phận nâu sồng, cũng khá thương đó. Nhưng chưa nghèo, phải học nghèo; chưa khổ
phải học khổ; kế chí quân tử : "cư bất cầu an, thực bất cầu bảo", chỉ
cặm cụi quanh năm lo cho xã hội được no ấm thôi, biết người quên mình, đó là
phận sự kẻ tu hành. Đến bậc tối thượng thừa cũng phải như thế, mới tròn nghĩa
vụ.
12 . GIẢI VỀ ÂM QUANG :
Âm quang là khí chất hỗn độn sơ khai, khi Chí Tôn
chưa tạo hoá, lằn khí ấy ở Diêu Trì Cung chứa để tinh vi vạn vật (Nghĩa là Bát
Cảnh Cung chứa cốt tinh của Bát hồn để "vận chuyển hoá thành chúng sanh)
tỷ như cái âm quang của phụ nữ có trứng cho loài người. Khi Chí Tôn đem dương
quang ấm áp làm cho hoá sanh, thì cái khoảnh âm quang ( Khoảng Âm quang đây chỉ
noãn của phụ nữ) phải thối trầm làm tinh đẩu là cơ quan sanh hoá vạn linh. Song
lằn âm quang ấy có giới hạn, nghĩa là nơi nào có ánh linh quang của Chí Tôn (
Aùnh linh quang tức nơi nào không có ánh sáng thì không có sự sống theo khoa
học) chưa chiếu giám đến, thì phải tối tăm mịt mờ, chẳng sanh chẳng hoá. Vậy
thì nơi khiếm ánh thiêng liêng là Âm quang, nghĩa là Âm cảnh hay Địa ngục, Diêm
đình của chư Thánh lúc xưa đặt hiệu. Vậy thì chính lời nhiều tôn giáo, nơi ấy
là những chốn phạt tù những hồn vô căn vô kiếp, nhơn quả buộc ràng, luân hồi
chuyển thế, nên gọi là Âm quang đặng sửa chữ Phong Đô Địa phủ của mê tín gieo
truyền, chớ kỳ thật là nơi để cho các chơn hồn giải thân định trí (một nơi
trung gian giữa Thiên đường và Địa ngục hay là mờ mờ mịt mịt).
Aáy là một cái quan ải, các chơn hồn khi qui Thiên,
phải đi ngang qua đó. Sự khó khăn bước khỏi qua đó là đệ nhứt sợ của các chơn
hồn. Nhưng tâm tu còn lại chút nào nơi xác thịt con người cũng nhờ cái sợ ấy mà
lo tu niệm. Có nhiều hồn chưa qua khỏi đặng, phải chịu ít nữa đôi trăm năm, tuỳ
chơn thần thanh trược. Chí Tôn buộc trường trai cũng vì cái quan ải ấy….Nếu để
cho chơn thần ô trược thì khó mong trở lại cõi Thiêng liêng và về cùng Thầy
đặng.
Em biết đặng nhiều hồn còn ở lại nơi ấy trót ngàn
năm chưa thoát qua cho đặng. Thất Nương ở đó đặng dạy dỗ, nâng đỡ các chơn hồn,
dầu sa đoạ luân hồi cũng có người giúp đỡ. Nghe lại coi có phải vậy chăng ?
13 . MẦNG MẦNG :
Mầng
nhau vì thấy giúp nên nhau
Mầng
Đạo từ đây đẹp vẻ màu
Mầng
xác Chí Linh thêm mãnh Lực
Mầng
thần chơn lý đặng danh cao.
Mầng
duyên nhơn loại đường tu vững
Mầng
phước nguyên hồn chẳng chút hao
Mầng
Đạo từ nay nâng thế giới
Mầng
nền chánh giáo trở thanh cao.
(12-2-1933)
14 . BÁT NƯƠNG KÍNH TẶNG :
Bát
vu hành khất bửa mơi chiều,
Nương
nưởng mình to giống kẻ thiêu.
Kính đến Tây phương tầm xá lợi,
Tặng tình đồng đạo phải đồng yêu.
(2-9-1942 )
15 . DẠY GIÁO SƯ HƯƠNG HỒ :
Thân
phận phàm nhơn trược đã đành,
Chẳng
vì nguyệt huyết kỵ anh linh,
Âm
Dương Nam Nữ hoa trêu bướm,
Hoà
ái tương sanh thuỷ nhập bình.
Tạo
hoá ví tay sanh đảnh trí,
Chúng
sanh nên mặt tạo khuôn hình.
Thợ
Trời đâu dễ chê đồ tạo,
Tốt
xấu sạch dơ tại miệng mình.
(1929)
16 . MỪNG NGỰ MÃ
Đào
nguyên lại trổ trái hai lần,
Ai
ngỡ Việt thường đã thấy lân.
Cung
đẩu vít xa gươm Xích quỉ,
Thiềm
cung mở rộng cửa Hà ngân,
Xuân
Thu định vững ngôi lương tể,
Phất
Chủ quét tan lũ nịnh thần.
Thổi
khí vĩnh sanh lau xã tắc,
Mở
đường quốc thể định phong vân.
(1946)
THƠ
VỊNH
Cô
Bát Nương Hoa Lam tay xách
Nhiệm
vụ còn độ khách hồng trần
Phi
Tưởng Thiên tiếp chơn thần
Đẩu
vân trở gót về gần cung Tiên.
H.P
17 . DẠO ĐÀN CẢM-TÁC
(21-2-1929)
Gượng
khảy năm âm giải tấm lòng,
Nhắn
đưa gió ái đến thu song.
Gióng
dây lìa nhạn sầu nghiêng ngửa,
Dở
ngón rơi loan thảm chập chồng.
Lầu
phụng mơ màng nghe quyển địch,
Cung
Tần văng vẳng lóng tơ đồng.
Chia
đôi bóng nguyệt còn phân nửa,
Gối
lạnh thương ai luống não nồng.
18 . DẠY PHÁI NỮ (2-8-ĐINH
HỢI 1947)
Thuyền
từ đã xa vòng bể khổ,
Nương Chí Linh tế độ nhân
gian
Tẻ
vui lánh tục tìm nhàn,
Lợi
danh là mộng, mơ màng huỳnh lương.
Lòng
thương ví như đường hà hải,
Đem
dung nghi làm giải trừ mê.
Nước
non thảm khổ ê chề,
Đem
thân mày liễu tô về giang san.
Niềm
ân ái đã tràn sông lệ,
Nết
xa hoa đã để miệng đời.
Cung hằng mang tiếng hổ ngươi,
Vì thân chưa phải nên người độ dân.
Ôm
ấp mãi lấy phần nhi nữ,
Cửa
công khanh đoán thử bao người.
Xem
người ví biết hổ ngươi,
Rèn
tâm tiết liệt cho đời soi gương,
Đừng quen theo sách lạ thường,
Đạo không nên đạo, đời không nên đời.
Hỡi ai có thấu ai ơi !
19 . ĐỢI ANH TÀI :
Dường đợi thanh loan tới
Hớn đài,
Tửu
tiên chưa phỉ tỉnh cùng say.
Nghe
danh ông Tắc, Y lìa ruộng,
Mến
đức vua Nghiêu, Thuấn bỏ cày
Aùi
vật Thành Thang quên dở ná,
Yêu
dân Hạ Võ mặc hài gai.
Trông
mưa đã đợi ba xuân mãn,
Cứu
chúng hờn ai chẳng trổ tài.
(1928)
20 . HOẠ VẬN THƠ CAO LIÊN TỬ
Thu
về thắm thoát kế thu qua,
Thu
hỡi ! chừng nao định chánh tà ?
Thu
đạm non Âu vừng ác xế,
Thu
treo đảnh Việt bóng trăng già.
Thu
còn nung nấu làn binh lửa,
Thu
toả đìu hiu dặm hải hà.
Thu
trước thu nầy bao kẻ biệt,
Thu
sầu gượng nhắn khách đường xa.
21 . HỎI KHÁCH TAO NHÂN :
Nhẹ
bước nhàn du để vẻ hồng,
Sấn
tay nước Việt dặm non sông.
Châu
về đất Bắc dời Kim Khuyết,
Ngọc
rạng thành Nam chuộc ải đồng.
Mở
lối Đài vân mời trí sĩ,
Dọn
đàng Hồng Lạc dắt anh phong.
Động
đào quen thú mai chiều ngắm,
Hỏi
khách tao nhân có mặn nồng ?
22 . KHÔNG ĐÁNG PHẬN :
Không
đáng phận xôn xao làm quá phận
Không
tài ba lại trổ mặt trí mưu.
Hèn
ganh sang, gây lẽ nghịch thù,
Dở
làm giỏi, đồ mưu làm phản phúc.
Dây
oan nghiệt bởi lòng tư dục,
Kết
oán thù vì chút đỉnh chung.
Ngoài
mặt đời ít kẻ vẫy vùng,
Ra
tuồng thế những phường phản loạn.
Kìa
từ trước phế vua hại bạn,
Gẫm
đời đâu tên choán sử xanh.
Cũng
là do kế giựt mưu giành,
Giành
thế lực, giành danh, giành quyền lợi.
Giương
xấu để mặt đời chê gợi.
Đều
cũng do khôn với ngu mưu.
Hễ
đồ vương thiên hạ lại ưa,
Nếu
sánh trộm cướp cũng chưa chi lạ.
Có
thế thường nên nghiệp cả,
Không
quyền hành dối trá nghèo hèn.
Cái
cơ đời lắm kẻ từng quen,
Biết
bụng thế lại xem vắng khách
Đời
đã đóng thành tuồng thành sách,
Dạy
cho tường hắc bạch màu tương.
Thương
cho đời khổ não đoạn trường,
Chẳng
khác kẻ oan ương biển thảm.
(1928)
23 . TẢ CHÍN VỊ TIÊN NỮ :
Một
mày liễu trong ngần đoá ngọc,
Hai
má đào trọng lọc tiết trinh
Mảnh
thân trọn hiếu thâm tình
Phải
hình thục nữ, phải gìn căn Tiên.
Ba
yểu điệu thuyền quyên vóc hạc,
Bốn
mỹ miều đài các trâm anh.
Khi
vui bóng nguyệt rọi mành,
Khi
dòng bích thuỷ, khi cùng hoa xuân.
Năm
phận gái hồng quần đáng mặt,
Sáu
vẹn toàn quốc sắc thiên hương
Ra
vào phụng trướng loan đường.
Vào
ra ngọc các cẩm tường xem hoa,
Bảy
trau chuốt thân ngà mặt ngọc,
Tám,
chín phần rèn sức nữ nhi.
Chung
lo mối đạo Tam Kỳ,
Giúp
nhà Nam chóng kịp thì Long Hoa.
BÁT NƯƠNG
(25-4-Canh Dần)
24 . DẠY LÀM THI VĂN
Vì lòng ngưỡng vọng của chư đạo huynh nên lịnh
Nương Nương cho em đến hầu chuyện.
Chư đạo huynh lo về đạo đức mà không năng trau
luyện quốc văn và thi văn. Văn chương là hồn nước, mà hồn nước tất là vận mạng
tương lai của nhơn sanh. Văn chương dồi mài cho tinh xảo thì ý kiến mới cao xa,
mới có thể nâng đỡ hồn nước lên cao trọng được.
Mấy đạo huynh có thể học hỏi nhau mà trau dồi văn
chương vì có Đức Từ Bi cùng chư Tiên thường dạy dỗ, nếu bỏ qua dịp tốt thì lấy
làm uổng. Mấy anh nên lưu tâm.
Nhàn Âm Đạo Trưởng đã gieo một phần quí trọng trong
nền văn, ấy là bước đầu để dẫn mấy đạo huynh đó. Nếu có chí, do theo đó mà tập
tầm thì cách thức cùng câu văn cũng trở nên thâm thuý như vậy đặng…(18-10-1927)
TIẾT
IX
KHIẾT
CỬU NƯƠNG
(Thủ bối : Ống tiêu )
Khiết
sạch duyên trần vẹn giữ
Bạc
Liêu ngôi cũ còn lời.
Chính
chuyên buồn chẳng trọn đời,
Thương
người noi Đạo, Phật Trời cũng thương.
THÍCH
NGHĨA :
Duyên nợ ở cõi trần quyết giữ tròn trong sạch.
Ở Bạc Liêu còn truyền thuyết về ngôi: "Bà Chúa
Xứ". Nhưng tiếc chẳng trọn đời với vua chồng, nên lấy sự chính chuyên
thương chồng để thương dân miền Hậu Giang, đến khi qui vị, Đức Chí Tôn cũng
rộng lòng háo sanh cho thành chánh quả.
GIẢI
NGHĨA :
Bài này diễn tả tâm sự của Bà Chúa Xứ Chân Lạp. Bà
được dân Hậu Giang, nhất là dân Bạc Liêu ca ngợi công đức mở đất giúp lưu dân.
Chẳng ngờ, vua Chân Lạp, chồng bà mới chung sống được 8 năm thì qua đời, Bà chỉ
còn niềm vui là lo giúp lưu dân Việt Nam đến làm ăn vùng đất mới, sau khi qua
đời cũng đắc quả Cửu Nương.
Bà nắm cơ huyền vi xây chuyển, thế hữu hình biến
dạng, từng địa hạt văn chương, thi phú, cầm kỳ, bá nghệ mỹ thuật đều nhờ sự
điều khiển khai đuốc linh quang cho từng chúng sanh (theo Thánh giáo).
SỰ
TÍCH :
"Bạc Liêu ngôi cũ còn lời" tức là chuyện
của bà không được lịch sữ ghi rõ mà chỉ còn truyền miệng. Cô Cao Thoại Khiết
chỉ là hậu thân của Công chúa Ngọc Vạn.
Lịch sử Bà Ngọc Vạn Công Chúa cũng không rõ ràng.
Từ thế kỷ 17, có nhiều người Việt Nam đến đất Chân Lạp (miền Biên Hoà, Bà Rịa
ngày nay) để vở đất làm ruộng. Lúc ấy, vua Chân Lạp Chey Chetta II cũng muốn
tìm một đối lực chống lại Xiêm La nên đã xin cưới con chúa Hy Tông. Năm 1920,
Chúa Nguyễn gã công chúa Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp. Vậy bà Ngọc Vạn trở thành
"Bà Chúa xứ Chân Lạp".
Bà đã đem nhiều người Việt Nam đến đất mới Oudong,
có người được cất nhắc giữ chức hệ trọng trong triều. Năm 1628, Chey Chetta II
mất, bà Ngọc Vạn thủ tiết thờ chồng.
"Chính chuyên buồn chẳng trọn đời".
Năm 1658, vì ghét người con ghẻ là vua Nặc Ông Chân
lấy vợ người Mã Lai và lúc nào Bà cũng nghĩ bà phải là "Bà Chúa xứ Chân
Lạp" nên bà Hoàng Thái Hậu Ngọc Vạn khuyên các con của Cựu vương Préah
Outey cầu cứu Chúa Nguyễn, Chúa Thái Tông sai tướng bắt được Nặc Ông Chân. Từ đó,lưu
dân Việt đến Đồng Nai, Gia Định rất đông, lấn sang miền Hậu Giang. Họ làm ăn
rất sung túc nên bị người Triều Châu ở Bạc Liêu thầm ghen ghét.
Để nhớ ơn người đã mang đất đến cho họ, nhân lập đã
lập miếu thờ ở núi Sam (Thất Sơn) tục gọi là "Bà Chúa Xứ" Chân Lạp.
Người ta tạc tượng Bà cao tới 1,25 mét phảng phất
văn hoá Bà La Môn (là Đạo của Chetta II). Bà rất linh hiển, phò hộ dân chúng
như ngày còn sống nên hằng năm cứ đến ngày 25-4 âm lịch là khách thập phương tụ
tập làm lễ "Vía Bà". Đọc hai câu liễn thờ thì thấy rõ quá trình độ
dân của Bà :
Cầu tất ứng, thành tất linh, mộng trung chỉ thị.
Xiêm khả kính, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lường
(Nguyễn Văn Hầu, Nửa tháng trong miền Thất Sơn, Sai
gon, Hương sen 1971)
Vì sự hiện diện của Bà ở đất Chân Lạp mà quân Xiêm
lo sợ uy danh Chúa Nguyễn nên không dám xâm lăng, còn người Thanh đây ám chỉ
lưu dân Trung Hoa sang ở đất ta (khi Tôn Văn diệt nhà Thanh) rất nể oai danh
Bà.
Về sau có nhiều người buôn bán làm ăn ở Bạc Liêu
lên miếu Bà thán oán về người Triều Châu (Trung Hoa) làm họ phá sản. Bà đưa
đường dân Việt đến xứ nầy, Bà phải bảo vệ họ nên Bà chuyển kiếp vào nhà họ Cao
với cái tên Thoại Khiết (1895) tại Tân Hưng, Bạc Liêu, em thứ chín của Cao
Triều Phát. Năm 21 tuổi bà lập gia đình với ông Nguyễn Bá Tính, vì không nợ
hồng trần nên Bà tuyệt tự và qui Tiên (1920) lúc chưa tròn 25 tuổi.
Bà là Cửu nương Diêu Trì Cung, có phận sự bảo hộ
người miền Tây theo đạo mới như Cao Triều Phát. Vùng này có nhiều người theo
Đạo và nhiều Chức sắc cao cấp được ân phong. Đó là công đức của Bà Chúa xứ.
THI
VĂN DẠY ÐẠO
1 . ĐÀN ĐÊM 4-1-1926, ĐỨC
CHÍ TÔN DẠY :
"Thầy đã nói A Ă Â là Thầy, còn Cung Diêu Trì
là Cung Diêu Trì. Các Thánh đều có quả, ấy là những Đấng Thầy lựa sai đến dạy
dỗ mấy con, đừng triệu về thường, vì mỗi người đều có phận sự riêng".
Trước đó (31-12-1925), Đấng A Ă Â giáng dạy :
"Sự nhỏ nhẹ của Thất Nương đó, con bằng mảy
mún gì chưa ? Học hỏi sự nhỏ nhẹ ấy.
Sự cao kỳ của Lục Nương, con có đặng mảy mún gì
chưa ? Học sự cao kỳ ấy. Sự nhân đức của Nhứt Nương, con có chút đỉnh gì chưa ?
Phải học nhân đức của Nhứt Nương.
Tình nghĩa yêu mến của con có bằng Bát Nương không
? Phải học.
Sự kính nhường, ba con bằng Cửu Nương chăng ? Phải
học.
Phải học tình nhân ái, trung tín, cứu giúp của Cửu
Thiên Nương Nương (tức Phật Mẫu), ba con có đặng như Cửu Thiên Nương Nương
chăng? Phải học gương !" ( Nguyễn Thị Hiếu, Đạo sử xây bàn, Tây Ninh 1967,
tr.35-36)
2 . CỬU NƯƠNG KÍNH TẶNG :
Cửu
Thiên mở cửa rước người hiền,
Nương
chí dắt dìu khách hữu duyên.
Kính
lập công to qui cựu vị,
Tặng
tiền phát khởi lập căn nguyên.
(2-9-1942)
3. THƠ VỊNH :
Cô
Cửu Nương ống tiêu giục thổi,
Giác
ngộ hồn, cãi hối tu thân.
Nghề hay nghiệp giỏi trong trần,
Cũng nhờ Cửu vị tinh thần mở mang.
H.P
CHƯƠNG III
ĐỀN
THỜ PHẬT MẪU & NGHI LỄ
TIẾT
I
ĐỀN
THỜ PHẬT MẪU
Đền thờ Phật Mẫu hiện nay nằm trên đại lộ Phạm Hộ
Pháp, chỉ là đền thờ tạm thời. Đền ấy chỉ là Báo Ân Từ (Nhà thờ các bậc anh tài
tiền bối).
Đền thờ chính định cất trên khoảng đất rộng 4 mẫu,
trước cửa số 1, lộ Bình Dương Đạo. Đền sẽ rộng lớn bằng Đền Thánh vì Ngôi Dương
(Đức Chí Tôn) và Ngôi Âm (Đức Phật Mẫu) đồng quyền nhau.
Vào năm Nhâm Thìn (1952) nhân dịp sửa chữa lại Báo
Ân Từ (tạm dùng làm nơi thờ Đức Phật Mẫu) , Đức Phạm Hộ Pháp có chỉ cho các thợ
hồ công quả đắp các pho tượng sau :
1 . Trên hết đắp chơn dung Đức Phật Mẫu cỡi thanh loan.
2 . Dưới đắp 9 pho tượng của Cửu Vị Tiên Nương.
3 . Liên tiếp đắp 4 vị Nữ nhạc hầu Đức Phật Mẫu là : Đổng Song Thành, Vương
Tử Phá, Hứa Phi Yến, An Phát Trinh.
4 . Tượng Đông Phương Sóc (Nhà văn hoá đời Hán biết nghe tiếng chim) quì nâng
4 quả đào Tiên.
5 . Tượng Đức Cao Thượng Phẩm quì trước sân Hoa Điện Cổ Tự.
Đức Hộ Pháp chỉ dạy về việc đắp chơn dung như sau :
"Hình của Đức Phật Mẫu là đắp theo hình chưng
cộ bông Cửu Nương lần đầu tiên vào tháng 8 năm Đinh Hợi. Thầy có chỉ cho Chí
Thiện Trạch, Trần Phong Lưu và Tá Lý Kía cất giữ, coi theo đó mà làm mẫu,
theosự tích đời Hán Võ Đế bên Tàu, hồi đó mượn bức ảnh của Bà Phối Sư Hương
Hiếu.
Đức Phật Mẫu có từ thuở khai thiên do khí Âm Dương
tạo thành, có quyền năng vô đối, vô biên, vô lượng, cũng như Đức Chí Tôn, hữu
hữu vô vô, nắm trọn bí quyết nhiệm mầu của Càn Khôn Vũ Trụ. Chớ không phải Bí
pháp biến thành Thể Pháp do hiện tượng sự tích đời Hán Võ Đế. Đó chỉ là mượn ý
tạc hình, chớ Phật Mẫu vốn vô vi".
Đức Phạm Hộ Pháp nói về việc cầu Phật Mẫu của Hán
Võ Đế như sau :
"Vào tiết trung thu, 15 tháng 8 năm Ngọ, đầu
giờ Tý, vua Võ Đế quì trước chùa thành tâm cầu khẩn. Đúng 12 giờ, thanh loan
đáp trước sân Hoa Điện, Vua ra thỉnh Đức Phật Mẫu ngự tại Chánh Điện.
Đức Phật Mẫu dạy 4 Nữ nhạc trao 4 quả đào Tiên cho
Hán Võ Đế và Đông Phương Sóc quì rước lộc Việc tạo hình Đức Cao Thượng Phẩm
thay cho Hán Võ Đế là Hớn Chung Ly giáng sanh thành lập quốc gia. Kỳ Hạ nguơn
nầy, Đức Cao Thượng Phẩm cũng là chơn linh của Hớn Chung Ly tái thế lập thành
Quốc Đạo, nên tạo hình Đức Cao Thượng Phẩm thuận hơn".
Còn bức tường phía ngoài, đối diện với các tượng
Cửu Vị Nữ Phật, thì Đức Ngài cho tạc hình Nam Bình Vương Phật.
"Chừng nào có đền thờ Phật mẫu thì Thầy cho
biết, không gì lạ. Vì Đền Thánh tượng trưng cho Bạch Ngọc Kinh tại thế, có hình
Hộ Pháp mặc khôi giáp, thì nơi đền thờ Phật Mẫu, tượng trưng Lôi Âm Tự, lẽ dĩ
nhiên tạc hình của Ngài, nhưng không mặc Thiên phục mà chỉ mặc áo cà sa mà
thôi".
"Từ lúc đưa tay nắm đạo quyền", Đức Cao
Thượng Sanh tiếp tục để hoàn thành kiến thiết cơ bản. Ngài cho xây dựng cửa
Chánh Môn, 12 cửa Nội ô Toà Thánh, các Thánh Thất, các Điện thờ Phật Mẫu ở 18
phận Đạo và ở các Châu Tộc xa xôi.
Ngài còn hoài vọng xây Đền Thờ Phật Mẫu nên chấp
bút học hỏi, được Bát Nương dạy :
"Nơi nào trong vùng Đạo không là Thánh Địa?
Vạn Pháp Cung (sân đình Núi Bà), phần đất gần Hàm phong cạnh cửa số 7 Nội ô,
đều có thể xây Đền mới được".
Vì theo ý Ngài, phần đất trước cửa Hoà Viện (số 1)
ngày nay nhơn sanh ở dày đặc, khó giải toả, nên Bà Bát Nương giáng dạy như trên
và còn cho biết kích thước Đền Thờ mới như sau :
Về kích thước, bằng kích thước Đền Thánh. Về các
Đài thì tổng hợp giữa Đền Thánh và Báo Ân Từ, nghĩa là mặt tiền Đền thờ Phật
Mẫu giống như Báo Ân Từ, có khác hơn : Đài giữa gọi là Lôi Âm Tự cao bằng lầu
chuông, trên đỉnh có 3 vòng Tam Thanh, ngược lại, hai Đài hai bên thì thấp hơn
6 thước, mà hình trụ cụt ( giống như lầu chuông bị cắt ngang, xem hình). Đài
bên phải xây vườn Ngạn Uyển hình mặt nhựt, bên trái xây ao Thất Bửu hình mặt
nguyệt. Bốn góc có 4 hình trụ, đỉnh hình cầu giống Đền TâjMahal bên Aán Độ. Đền
thờ vị Nữ Vương này.
Vườn Ngạn Uyển phải trồng đủ 12 sắc hoa tượng trưng
12 con giáp. Ao Thất Bửu phải cẩn đủ 7 loại báu qúi : Pha Lê, Xà cừ, Châu,
Ngọc, Vàng, Bạc, Đồi mồi.
Ở mặt sau, nơi thờ Phật Mẫu, cũng xây Đài Bát Giác
như Bát Quái Đài, nhưng gọi là Tạo Hoá Thiên hành khiển "Bát hồn vận
chuyển hoá thành chúng sanh", trên đỉnh có tượng Tam Thánh Bạch Vân Động.
(bên ngoài Bát giác, bên trong nội tiếp đường tròn, chỉ vòng vô vi xem hình).
Vì câu liễn trước Đền Thờ Phật Mẫu là :
BÁT phẩm chơn hồn tạo thế giái hoá chúng sanh vạn
vật hữu hình tùng thử ĐẠO.
QUÁI hào bác ái định càn khôn phân đẳng pháp nhứt
thần phi tướng trị kỳ TÂM.
Toàn thể bên ngoài sơn toàn một màu trắng (màu đạo,
khi các con về với Mẹ phải mặc đồ toàn trắng), trừ mái ngói sơn màu đỏ, không
được vẽ hình gì cả.
Bên trong Đền Phật Mẫu vẫn trần thiết cách thờ như
cũ : tạc tượng Phật Mẫu và Cửu Vị Nữ Phật, hai bên thờ các Thánh tử Đạo. Đối
diện với tượng Phật Mẫu ( ở ngoài đi vào) là tượng Nam Bình Vương Phật (tức
tượng Đức Hộ Pháp mặc áo cà sa).
Từ Nam Bình Vương Phật đến tượng Phật Mẫu phải có 8
bậc tượng trưng Bát Cảnh Cung (Đền Thánh có 9 bậc là Cửu Thiên khai hoá). Trong
nội điện có sơn màu như cũ.
Tấm vách sau lưng Nam Bình Vương Phật, phía ngoài
tức mặt trước thì tạc tượng "Thiên cơ chuyển hoá" tức lấy sự tích
trong 9 bài Cửu mà Hội Thánh Phước Thiện đã vẽ và đã cho xuất bản.
Tóm lại, Đền thờ mới vẫn gọi là Đền Thờ Phật Mẫu,
mặt tiền có 3 lầu, cao nhứt là Lôi Âm Tự, hai bên có Ao Thất Bửu và Vườn Ngạn
Uyển.
Tấm vách dưới Lôi Âm Tự có tạc tượng "Thiên cơ
chuyển hoá" (chỗ mà Đền Thánh tạc tượng Tam Thánh). Cung thờ Phật Mẫu gọi
là Tạo Hóa Thiên, đối diện với tượng Phật Mẫu là tượng Nam Bình Vương Phật.
Sau đó Đức Thượng Sanh giải thích thêm :
Khi Đền Thờ Phật Mẫu cất xong, việc thờ phượng dời
đến cơ sở mới thì Báo Ân Từ được sắp xếp lại cho đúng chơn truyền. Chỗ cũ thờ
Đức Phật Mẫu, đắp một quả Địa cầu sơn màu xanh, trên có đắp hình nước Việt Nam
theo chiều dài sơn màu vàng. Tất cả nằm trên nền trắng hình chữ nhựt. Ở dưới
thờ bằng bài vị hoặc bằng hình ( không đắp tượng) các Hiền triết, các nhà bác
học, các bậc vua chúa có công với đời. Vì tất cả chúng sanh đều do Đức Chí Tôn
phân tánh giáng sanh, tuy họ có lập trường, có chủ nghĩa khác nhau, đó chỉ là
luật mâu thuẫn để tiến hoá, như có kẻ ác mới rõ người thiện, không có đấu tranh
thì xã hội không tiến bộ. Bên trên nền trắng đề 4 chữ màu đỏ : "ĐẠI ĐỒNG
CHI PHÁP". Đó là tôn chỉ của Đạo Cao Đài : Đại Đồng thế giới do luật pháp
Thiên điều qui định.
Bên gian trái, trên nền trắng đề 4 chữ : "HẢI
NGOẠI CHI THẾ" để thờ chơn linh các bậc Thánh nhân, hiền triết anh hùng
nước ngoài, các chức sắc Chi Thế cũng được thờ ở đây khi qui vị.
Bên gian phải, trên nền trắng đề 4 chữ Hán:
"QUỐC NỘI CHI ĐẠO", đó là mục đích của Đức Chí Tôn lập nền Quốc giáo.
Gian nầy thờ các chiến sĩ vô danh, các anh hùng hào kiệt nước Việt Nam. Các
chức sắc vì Đạo cũng được thờ ở đây khi qui vị.
Báo Ân Từ là nơi vẫn trần thiết các lễ từ trước tới nay thuộc quan, hôn, tang, tế hoặc
các ngày giỗ chung v…v…
Tóm lại, Đạo có ba chi: Đạo, Pháp và Thế. Đắc thế,
đắc pháp, đắc đạo, việc nào cũng được nhơn sanh kính trọng như lời dạy của Đức
Phật Mẫu (xem lại chương I, phần Thi văn dạy đạo), nên những nhân vật lừng danh
đều phải được nhơn loại đền ơn đáp nghĩa để noi theo cái gương cao cả và hành
động tốt lành của các bậc hiền triết, chơn nhơn mà đắc quả tại thế gian.
TIẾT
II
MỘT
SỐ NGHI TIẾT
TẠI
ĐỀN THỜ PHẬT MẪU ĐỊA PHƯƠNG
Cách lập đàn :
Chư Thiện tín đến chầu lễ Đức Phật Mẫu nơi Điện thờ
Phật Mẫu địa phương phải đến trước giờ hành lễ, sắp hàng trước sân Điện thờ
Phật Mẫu.
- Đến giờ, Lễ vụ kệ chuông nhứt :
Văn chung khấu hướng huệ trưởng Càn khôn
( dộng một tiếng chuông)
Pháp giái chúng sanh đồng đăng bỉ ngạn.
(dộng một tiếng chuông)
Aùn Dà Ra Đế Dạ Ta Bà Ha .
(dộng một tiếng chuông)
- Khi kệ chuông nhứt dứt, tất cả sắp hàng tuần tự,
tay bắt ấn tý để trước ngực, đi vào chánh điện, phân làm ba ban : phía trong nhìn
ra, phái nữ vào căn giữa và căn bên hữu, phái nam vào căn bên taû đứng hầu.
- Lễ xướng: "TỊNH
TÚC THỊ LẬP " tất cả đứng lên trang nghiêm yên lặng.
- Lễ xướng: "CHẤP
SỰ GIẢ CÁC TƯ KỲ SỰ", Chư vị có trách nhiệm trong Đàn phải chuẩn bị lo
phận sự.
- Lễ Vụ kệ chuông nhì :
Nhứt vi u ám tất giai văn .
(dộng một tiếng chuông)
Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác
(dộng một tiếng chuông)
Aùn Dà Ra Đế Dạ Ta Bà Ha
(dộng một tiếng chuông)
- Lễ xướng : "CUNG THÀNH THỨ TỰ NAM NỮ NHẬP ĐÀN" , Lễ vụ khắc ba tiếng
chuông, tất cả xá Đàn bước vào vị trí hành lễ, hướng vào bàn thờ Đức Phật Mẫu,
chờ nhạc tấu Huân-Thiên.
- Khi nhập Đàn cúng Đức Phật Mẫu thì tay bắt ấn tý
xá ba xá, quì xuống, để tay lên trán, niệm:
-
NAM MÔ DIÊU TRÌ KIM MẪU VÔ CỰC THIÊN TÔN.
-
NAM MÔ CỬU VỊ TIÊN NƯƠNG.
-
NAM MÔ BAÏCH VÂN ĐỘNG CHƯ THÁNH.
Mỗi câu xá xuống một xá, đủ 3 xá rồi thì để tay ấn
tý nơi ngực mà đọc kinh.
Khi Đồng nhi tụng dứt bài kinh : Niệm hương, Phật
Mẫu Chơn kinh, dâng hoa, dâng Rượu, dâng Trà, Sớ văn, Ngũ nguyện đều lạy 3 lạy,
mỗi lạy 3 gật , mỗi lần gật niệm : "Nam
mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn".
Khi dâng Tam Bửu cũng nguyện như tại Thánh Thất,
nhưng thay vì "dâng cho Đức Chí Tôn", thì tại Điện thờ Phật Mẫu
" dâng cho Đức Phật Mẫu".
Sau phần Ngũ nguyện, chư vị quì cúng, lạy xong đứng
dậy thì chư thiện tín nam nữ già yếu vào bái lễ Đức Phật Mẫu theo sự sắp đặt
của Ban trật tự Đàn cúng, khi bái lễ không cầu viện chỉ niệm :
- Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.
- Nam mô Cửu vị Tiên Nương.
- Nam mô Bạch Vân Động Chư Thánh.
Lạy 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi gật niệm " Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn".
Gật 9 lần niệm 9 lần.
Chờ bái lễ xong, đứng phân ban Nam Nữ nghiêm chỉnh
Nghi lễ kệ 3 câu chú :
-
Đàn tràng viên mãn Chức sắc qui nguyên
Vỉnh
mộc từ ân phong điều võ thuận.
(dộng một tiếng chuông)
-
Thiên phong hải chúng Quốc thới dân an.
Hồi
hướng đàn đường tận thâu pháp giái.
(dộng một tiếng chuông)
Án
dà ra Đế Dạ Ta Bà Ha.
(dộng một tiếng chuông)
Sau rốt, Nghi lễ khắc 3 tiếng chuông bãi Đàn.
Khi bãi Đàn, đồng đạo tuần tự theo hàng đi ra như
nhập Đàn, không tẻ hàng qua lại bái lễ nơi Bàn thờ Tả ban. Muốn bái lễ những
nơi này thì phải chờ mọi người tuần tự ra hết rồi mình mới trở vào bái lễ cho
khỏi trở ngại.
Thường ngày, sau những thời cúng nơi Điện thờ Phật
Mẫu, đồng Đạo có tụng kinh Di Lặc, kinh Cứu khổ để cầu nguyện cho chúng sanh và
chư Chơn Linh quá vảng. Mặc dù sau mỗi bài kinh đều có tụng câu chú của Thầy 3
lần : "NAM MÔ CAO ĐÀI TIÊN ÔNG BỒ
TÁT MA HA TÁT", nhưng khi lạy Đức Phật Mẫu thì phải niệm : "NAM MÔ
DIÊU TRÌ KIM MẪU VÔ CỰC THIÊN TÔN".
Căn cứ lới phê của Đức Hộ Pháp năm Tân Mão (1951)
nơi Điện thờ Phật Mẫu địa phương không được tổ chức lễ HỘI YẾN DIÊU TRÌ CUNG .
Nguyên văn lời phê như sau :
"HỘI
YẾN DIÊU TRÌ CUNG là lễ đặc biệt Hiệp Thiên Đài chủ quyền và chỉ làm tại Đền
Thờ Phật Mẫu tại Toà Thánh mà thôi, không nơi nào có phép làm lễ ấy. Nếu sái
lịnh sẽ bị trừng phạt một cách nghiêm khắc".
PHỤ
TRANG
ĐỨC
HỘ PHÁP GIẢI NGHĨA
"PHẬT
MẪU CHƠN KINH"
Trên Cửu Long Đài, trước Báo Ân Từ hồi 4 giờ rưỡi
ngày 15 tháng 8 Đinh Hợi.
"Tạo
Hoá Thiên huyền vi Thiên Hậu"
"Chưởng
Kim Bàn Phật Mẫu Diêu Trì"
Tùng Trời Tạo Hoá Thiên, có vị cầm quyền năng tạo
đoan gọi là Thiên Hậu. Nắm cả Kim bàn, tức là nắm đẳng cấp Thiêng liêng điều
khiển các chơn linh, là Phật Mẫu Diêu Trì.
Bên Á Đông người ta thường kêu Phật Mẫu là Mẹ sanh,
thờ bằng cốt tượng; cũng nhờ Cửu vị Tiên nương truyền bá, còn lưu lại ngày nay
là bọn đồng cốt; nhờ đồng cốt mà cả Á Đông đều biết Phật Mẫu là Mẹ sanh của
nhơn loại.
"Sanh
quang dưỡng dục quần nhi"
Lấy khí sanh quang (fluide de vitalité) nuôi nấng
con cái của người.
"Chơn
linh phối nhứt thân vi Thánh hình"
Chơn linh của Chí Tôn cho ta hiệp với hình hài lập
ra thân thể ta, gọi là phách hay vía, khi thoát xác chơn linh ấy xuất ngoại.
"Thiên
Cung xuất vạn linh tùng Pháp"
Do nơi Thiên cung mà ra vạn loại, tức nhiên vạn vật
đều tùng quyền Pháp Thiên Cung mà sanh.
"Hiệp
Âm Dương hữu hạp biến sanh".
Lấy Âm Dương khí hòa hiệp nhau biến hóa ra vạn vật.
"Càn
khôn sản xuất hữu hình"
Có Càn khôn là có Âm dương Phật Mẫu biến ra hình
thể của vạn linh.
"Bát
hồn vận chuyển hoá thành chúng sanh"
Trong Bát hồn kể Kim thạch hồn, thảo mộc hồn, thú
cầm hồn, nhơn hồn, Thần hồn, Thánh hồn, Tiên hồn, Phật hồn, do trong kim bàn
của Phật Mẫu vận chuyển hoá ra bát đẳng cấp chúng sanh.
"Cọng
vật loại huyền linh đồ nghiệp".
Hiệp cả thảy các huyền linh của loài vật hữu sanh
cọng lại làm đại nghiệp của mình, mở một con đường đặng lập vị cho nhau.
"Lập
Tam Tài định Kiếp hoà căn"
Tới Tam Tài trên kể xuống là Thiên , Địa, Nhơn,
dưới kể lên Người, Đất, Trời, Phật Mẫu định kiếp căn của mọi người đã sanh ở
cõi trần này.
"Chuyển
luân định phẩm Cao thăng".
Do sự luân hồi chuyển kiếp của chúng ta, Phật Mẫu
định phẩm vị cho chúng ta cao thăng. Sanh ra đặng trả quả kiếp ở thế gian theo
luật nhơn quả, sanh ra đặng lập nghiệp đoạt vị cũng có, mượn kiếp hữu sanh này
lập vị cao thăng cũng có.
"Hư
vô Bát quái trị Thần qui nguyên"
Lấy khí hư vô dựng lò Bát quái để đem linh hồn của
chúng ta về nguyên căn "Phật Mẫu có đủ quyền hành đem cả thần hồn chúng ta
lại cho Chí Tôn.
"
Diệt tục Kiếp trần duyên oan trái"
Phật Mẫu định cho ta trả nợ oan trái ở trần gian
Phật Mẫu có quyền sửa cải kiếp luân hồi, cho ta đái công thục tội.
"Chưởng
Đào Tiên thủ giải trường tồn"
Nơi Diêu Trì cung, Phật Mẫu trụ sanh quang lại làm
một khối, gọi là quả Đào Tiên, đủ sự sống vĩnh cửu nơi cõi hư linh, sẽ phát cho
chúng ta dùng cho rõ hiểu pháp trường sanh.
"
Nghiệp hồng vận tử hồi môn"
"Chí
Tôn định vị vĩnh tồn Thiên cung"
Công nghiệp lớn của Phật Mẫu là đem ta trở về cựu
vị là cửa trời.
"Chủ
Âm Quang thường tùng Thiên mạng"
"Độ
chơn thần nhứt vãng nhứt lai"
Chủ quyền máy Âm Dương, chia ranh Địa ngục với
Thiên đàng tùng mạng lịnh của Chí Tôn. Phật Mẫu gìn giữ chơn hồn của chúng ta,
đem ta đến đem ta về.
"Siêu
thăng Phụng Liễn Qui Khai"
Siêu thăng thì ta nhờ cái xe tiên là xe Phụng liễn
mà mở cửa đi về.
"Tiên
Cung Phật Xứ Cao Đài Xướng Danh"
Về nơi cung Tiên Xứ Phật, Đức Cao Đài kêu danh hiệu
(đều phải nhờ quyền năng của Phật Mẫu độ rỗi chúng ta).
"Hội
Ngươn hữu Chí linh huấn Chúng"
Thượng Ngươn qua Trung Ngươn qua Hạ Ngươn. Nay Hạ
Ngươn Tam chuyển hầu diệt bắt đầu Thượng Ngươn Tứ chuyển có Chí Tôn đến giáo
hoá chúng sanh.
"Đại
Long Hoa nhơn chủng hoà ki"
Đại Long Hoa đã tiên tri là hội ân xá các đẳng chơn
hồn; không phân chia chủng tộc, nòi giống hiệp nhau về một gốc (chỗ nguyên
lai).
"Tam Kỳ Khai hiệp Thiên Thi"
"Khoa môn Tiên vị ngộ Kỳ Phật duyên"
Đạo Tam Kỳ khai giáo
đúng với Thiên Thơ tiền định, để mở hội thi lên ngôi Tiên cho kẻ có duyên với Phật.
"Trung
khổ hải độ thuyền Bát nhã"
"Phước
Từ Bi giải quả trừ căn"
Phật Mẫu đem thuyền Bát Nhã vào biển khổ đặng độ
nhơn sanh ra khỏi trần ai.
"Hươn
hồn chuyển đoạ vi thăng"
Hườn hồn cho cả chúng sanh bị tiêu hủy được phục
siêu sanh cải đọa lạc ra siêu thăng.
"Cửu Tiên hồi phục Kim Bàn chưởng âm"
Cửu Vị Tiên Nương trở lại thì Phật Mẫu Kim bàn
chưởng quản bầy âm linh.
"Thập
Thiên can bao hàm vạn tượng"
"Tùng
Địa chia hoá trưởng Càn khôn"
Mười Thiên can là: Giáp, Aát, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ,
Canh, Tân, Nhâm, Quí hiệp với 12 Địa chi là : Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ,
Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi mà biến hoá ra hình tượng bao la Càn khôn Thế giái,
làm cho Thế giái rộng lớn thêm lên.
"Trừng
hườn phục vị Thiên môn"
Cho trở lại quê xưa vị cũ là về nơi cửa Trời.
"Ngươn
linh hoá chủng quỉ hồn nhứt thăng"
Các Huyền linh biến hóa ra nhiều quỉ hồn cũng được
siêu thăng, được đi chung đường với Thần, Thánh, Tiên, Phật mà phục vị.
"Vô
siêu đoạ quả căn hữu pháp"
Không siêu thăng, không đoạ lạc căn quả đều có phép
luật định.
"Vô
khổ hình nhơn kiếp lưu oan"
"Vô
địa ngục vô quỉ quan" Không còn khổ hình của kiếp làm người Phật Mẫu
diệt liệu cũng không để còn oan nghiệt, không còn Địa ngục cũng không còn chỗ
nhốt quỉ hồn. Quỉ quan là cai ngục nhốt các hồn quỉ, là nơi giam cầm hình phạt
khổ sở các quỉ hồn.
"Chí
Tôn đại xá nhứt trường qui nguyên"
(Vì chữ Đại xá nên Đạo Cao Đài gọi là 3è Amnistie
de Dieu en Orient ) Chí Tôn ân xá tội tình, đem tất cả con cái của Ngài về hiệp
cùng Ngài.
"Chiếu
nhũ lịnh Từ Huyên thọ sắc"
"Độ
anh nhi nam bắc đông tây"
Chiếu theo lịnh dạy của Đức Chí Tôn, Từ Huyên là mẹ
sanh của chúng ta thọ sắc độ rỗi vạn linh tứ hướng tức là con cái của Người
không bỏ sót một ai.
"Kỳ
Khai tạo nhứt Linh Đài"
"Diệt
hình tà pháp cường khai Đai Đồng"
Khai Đạo Tam Kỳ, kỳ nầy đặng tạo Linh Đài là cái
tâm linh cho con người có đủ quyền năng tiêu diệt tà pháp đặng đem nhơn loại
đến Đại Đồng một cách mãnh liệt.
"Hiệp
vạn chủng nhứt môn đồng mạch"
Hiệp nhơn sanh lại một nhà chung một Đạo, Đạo sẽ
duy nhứt vạn loại sẽ là một khối, không phân biệt quốc gia chủng tộc, Tôn giáo,
ngày nào được như vậy là ngày đó được hoà bình thế giới (La religion sera une,
le monde sera un, l'humanité sera une, une en nation, en race et en religion).
"Qui
Thiện lương quyết sách vận trù"
Phật Mẫu vẫn lo lắng liệu định kế hoạch đặng đem
cái bản tánh tốt đẹp của con người về. Con người ở trần thế vì vật dục mà tán
tận thiện lương.
"Xuân
thu, Phất chủ, Bát vu"
"Hiệp
qui Tam Giáo hữu cầu Chí Chơn"
Lấy biểu hiện của Tôn giáo, như sách Xuân thu của
Đạo Thánh, Phất chủ của Đạo Tiên và Bát vu của Đạo Phật, gom góp cả ba giáo lại
làm một, để tìm cho ra chơn pháp.
"Phục
nguyên nhơn hườn tồn Phật tánh"
"Giáo
hoá hồn hữu hạnh hữu duyên"
Đem Phật tánh lại cho các bậc nguyên nhân, nguyên
nhơn là các chơn hồn Chí Tôn sai xuống trần gian đặng độ chúng sanh, nhưng họ
mê luyến hồng trần nên Chí Tôn đem Phật tánh phổ hoá cho họ nhớ mà trở lại quê
xưa, Phỏng định (100) một trăm ức nguyên nhơn, Phật Tổ độ đặng 6 ức, Lão Tử 2
ức, còn lại 92 ức vẫn còn đoạ lạc, Phật Mẫu đến giáo hoá cho họ được hạnh phúc
nhân duyên mà qui hồi cựu vị.
"Trụ
căn quỉ khí cửu tuyền"
"Quảng
khai Thiên thượng tạo quyền chí công"
Cả quỉ hồn Phật Mẫu trụ nó lại ở nơi cửu tuyền đài,
rồi mở rộng cửa Trời, đặng thật hành quyền chí công bình của Trời.
"Lịnh
Mẫu Hậu khai tông định đạo"
Mẫu Hậu là Diêu Trì Kim Mẫu hay là Thiên Hậu Thánh
Mẫu, Đức Chí Tôn hạ lịnh cho Ngài đến mở Tôn giáo định Đạo cứu chúng ta.
"Ân
dưỡng sanh đảm bảo hồn hài"
"Càn
khôn Tạo hoá sánh tài"
Đã sanh lại dưỡng đặng đảm bảo hình hài thì ơn ấy
quá trọng, sánh bằng cái công tạo hoá ra càn khôn thế giới.
"Nhứt
triêu nhứt tịch kính bài mộ khang"
Mỗi buổi mơi buổi chiều chúng ta đến thăm viếng Đức
Mẹ như Từ thân chúng ta vậy. Mộ khang là đến thăm viếng buổi chiều để vấn an
Đức Mẹ đó vậy.
"Nam
mô Diêu Trì Kim Mẫu Tạo Hoá Huyền Thiên cảm bái"
"Nam
mô Đại Từ Bi năng hỉ xả, Thiên Hậu Chí Tôn Đại Bi Đại Aùi".
Chúng con vái lạy người cầm quyền năng tạo cả Càn
Khôn Thế Giái gọi là Thiên Hữu Chí Tôn là Đức Diêu Trì Kim Mẫu xin Ngài từ bi
bác ái vui lòng xá tội cho chúng ta.
Theo bí pháp chơn truyền của cơ sanh hoá phải có đủ
âm dương trong sanh quang chúng ta có điện quang Positif và négatif cũng như
vạn vật có trống mái, nền Tôn giáo nào cũng có đủ Âm dương thì mới vĩnh cửu
trường tồn.
Như Đức Chúa Jésus ngày trước bị đóng đinh trên cây
Thánh giá, đầu trở lên trên gọi Dương, còn ông Thánh Pierre là đệ nhứt tông đồ
bị đóng đinh trở đầu ngược xuống dưới gọi là phần Âm. Âm Dương tương hiệp đúng
theo bí pháp nền Đạo Thánh lưu truyền (2000) hai ngàn năm không ai dùng quyền
gì tiêu diệt đặng.
Chí Tôn có sai con của Người đến lập Đạo như Thích
Ca, Jésus, Khổng Tử v..v… Thời kỳ nầy Người đã xuất nguyên linh của Người đến
dạy dỗ chúng ta, thì tưởng điều ấy trọng yếu hơn hết.
Khi mở đạo Cao Đài Chí Tôn định cho Phật Mẫu đến
giáo đạo cho chúng ta, bảo trọng nuôi nấng, dạy dỗ chúng ta thì không ơn đức
nào bằng, vì không ai biết thương con muốn cho con nên người, bảo trọng binh
vực con hơn Mẹ.
Phật Mẫu đến cầm quyền lập Đạo xong rồi giao lại
cho Chí Tôn, Phật Mẫu là chủ Âm Quang, Chí Tôn là chủ Dương Quang, Âm Dương
tương hiệp. Đạo Cao Đài nương theo năng lực của hai khối Âm Dương đó, hễ đối
với năng lực tạo ra Càn Khôn Thế Giái thế nào, thì Đạo Cao Đài ngày kia sẽ có
năng lực như thế đó.
CỬU VỊ TIÊN NƯƠNG GIÁNG THI
1 . Nhẫng ngồi
giữ Huỳnh hoa Ngạn Uyển
Mà
quên nghe vẳng tiếng vãng sanh
Dọn
đường lều cỏ chòi tranh
Tay
nương chiếc gậy một mình trông vơi.
2 . Trông động
cũ màu trời biến sắc
Trông
cung Nga thiếu mặt từ quân
Trông
xa đảnh Thánh non Thần
Trông
đền Ngọc khuyết vạn phần Thiên lương.
3 . Nay đầm ấm con đường hạnh phúc
Cõi
phong trần gội chút hồng ân
Tiêu
diêu phai lợït mùi trần
Tỉnh
say giọt nước trắng ngần tẩy mê.
4 . Tưởng tròn
phận tô xuê đảnh Việt
Nương
thuyền từ cứu tuyệt bi ai
Đường
quê vào thấy Thiên thai
Công
trình lập dựng văn đài chí công
5 . Mở rộng cửa đại đồng vạn chủng
Khai nẻo sanh cứu sống nhơn gian
Trị tâm mở cửa song quang
Khai đường Cực Lạc, mở đường Lôi
Âm
6 . Đưa
gương rạng Quan Âm dẫn thế
Diệt mê hồn tồi tệ nghiệt căn
Gương xưa để bước lên lần cảnh thăng
7 . Nào dè phép qủi toan cải chánh
Mượn quyền yêu so sánh Chí
Linh
Đem
thân lữ thứ làm binh
Cầm
gươm huệ chặt tan tành cung thương.
8 . Hỡi nào kẻ
đảm đương việc Đạo
Hỡi
những trang nóng máu anh phong
Ngôi
Thiên để dựa bóng hồng
Phục
hưng cơ nghiệp con Rồng cháu Tiên.
9 . Gầy đại nghiệp tổ tiên ngày trước
Dựng
miếu đường hưởng phước tự do
Mãng
trông bến cũ đưa đò
Chơn
quân Lương tể dựng cờ vinh phong.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét